Kỹ thuật sản xuất cây Bưởi Diễn



BẢN HƯỚNG DẪN SẢN XUẤT CÂY BƯỞI DIỄN
 A. YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN SINH THÁI CỦA BƯỞI DIỄN
1. Yêu cầu về nhiệt độ
Cây bưởi Diễn có thể trồng ở nhiệt độ từ 12 – 39 o C, trong đó nhiệt độ thích hợp nhất là từ 23 – 29 o C. Nhiệt độ thấp hơn 12 0 C và cao hơn 40 0 C cây dễ bị khô héo và rụng lá. Nhiệt độ không khí cao có liên quan đến nhiệt độ của đất do đó ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ. Ngoài ra sự chênh lệch về nhiệt độ ngày và đêm lớn cây phát triển mạnh và làm cho khả năng tích luỹ vận chuyển đường bột trong quả tăng, kích thích sự hình thành các sắc tố trên vỏ quả làm cho quả đẹp, có màu sắc đúng với đặc điểm của giống. Nhìn chung ở những vùng có nhiệt độ bình quân năm trên 20 o C và tổng tích ôn từ 2500 – 3500 o C đều có thể trồng được. 2. Yêu cầu về nước Là loại cây ưa ẩm nhưng không chịu úng vì rễ của cây thuộc loại rễ nấm do đó nếu ngập nước đất bị thiếu oxy rễ sẽ hoạt động kém, ngập nước lâu sẽ bị thối rễ làm rụng lá, rụng quả non. Điều này giải thích tại sao trồng cây bưởi Diễn trên đất bằng tuổi thọ không cao bằng trồng trên đất dốc. Các thời kỳ cần nước của cây là: thời kỳ bật mầm hoa, ra hoa và phát triển quả. Nhìn chung lượng mưa ở các vùng sản xuất nông nghiệp nước ta từ 1400 – 2500mm/năm. Xét về tổng số là đủ thậm chí thừa so với nhu cầu của cây. Tuy nhiên lượng mưa lại phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm gây nên tình trạng thừa nước hoặc thiếu nước ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau. Do vậy, cần có các biện pháp kỹ thuật giữ ẩm, tưới nước bổ sung trong thời 3. Yêu cầu về đất. Cây bưởi Diễn có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau - trồng trên đất xấu việc đầu tư phải cao hơn.
 B. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC BƯỞI DIỄN
1. Chọn đất trồng
Đất tốt cho trồng cây bưởi Diễn phải là đất có tầng canh tác dày từ 1m trở lên, giàu mùn (hàm lượng mùn trong đất từ 2 - 2,5% trở lên), hàm lượng các chất dinh dưỡng N, P, K, Ca, Mg… đạt từ trung bình khá trở lên (N: 0,1%- 0,15%; P2O5: 5- 7mg/100g đất; K2O: 7-10mg/100g đất; Ca, Mg: 3-4mg/100g đất). Độ chua PHKCL = 5,5-6,5. Đặc biệt là phải thoát nước tốt thành phần cơ giới: cát pha, đất phù sa ven sông
2. Thiết kế vườn trồng
1. Mỗi lô (một vườn) khoảng 1ha có hệ thống tưới tiêu.
2 Nếu vườn trồng cây bằng phẳng không có độ dốc cần lên luống giữa hai hàng cây tạo một rãnh rộng 30 cm, sâu 30 cm và xung quanh có rãnh thoát nước rộng 80 cm, sâu 50 cm – 60 cm để tránh bị úng cục bộ hoặc trong đất lình xình nước ở những đợt Nếu đất đồi cần thiết kế vườn trồng theo địa hình của từng mảnh đất để tránh hiện tượng sạt lở và rửa trôi đất màu.
Hệ thống nước tưới: Phải thiết kế hệ thống kênh mương dẫn nước đến từng vườn. Trong mỗi vườn có hệ thống ống cứng dẫn nước tưới đến từng hàng cây thuận Có bể chứa nước khoảng 20 m 3 . Có một bể nhỏ khoảng 3 m 3 để ngâm phân. Có một bể nhỏ khoảng 1 m 3 để phun thuốc.
3. Mật độ, khoảng cách trồng Thông thường khoảng cách trồng: 5m x 5m (cây cách cây: hàng cách hàng) Mật độ: 400 cây/ha
4. Thời vụ trồng Thời vụ thích hợp trồng cây bưởi Diễn ở miền Bắc Việt Nam vào mùa xuân (từ tháng 2- tháng 4) và mùa thu (từ tháng 8 đến tháng 10). Trong điều kiện chủ động được nước tưới, trồng vào vụ thu cây ổn định sinh trưởng, đến mùa xuân năm sau cây sinh
5. Đào hố và bón lót Sau khi đã thiết kế xong tiến hành đào hố và bón lót trước lúc trồng 1 tháng. + Kích thước hố: nguyên tắc đất xấu phải đào rộng và sâu, đất tốt đào hố nhỏ và nông hơn. Thông thuờng hố trồng cây bưởi Diễn đào 60cm x 60cm x 60cm. Khi đào hố xong dùng đất đào lên với đất phá thành lấp xuống 4/5 hố, phần đất còn lại trộn đều với phân chuồng + vôi + lân lấp trên mặt hố cao hơn mặt đất vườn 15 – 20 cm. Lượng phân bón lót (tính cho 1 hố) + Phân hữu cơ (phân chuồng hoai mục): 50 – 60kg + Phân lân Supe: 0,5 – 1kg + Vôi bột : 1kg
6. Chọn giống trồng thích hợp Cây giống bưởi Diễn được nhân bằng phương pháp ghép từ vườn cây đầu dòng, sạch bệnh virus, cây giống bưởi Diễn được trồng trong túi bầu Polyme mầu đen, chiều cao đạt 40 - 50 cm từ mắt ghép trở lên, cây không bị sâu bệnh
3 Khi trồng
Đào lỗ giữa mô đặt bầu cây con xuống sao cho mặt bầu cao hơn mặt mô từ 3-5 cm. Dùng tay ấn nén đất xung quanh bầu cây tạo sự liên kết giữa đát ở ngoài Khi đặt cây phải xoay mắt ghép theo hướng chiều gió để tránh gẫy nhánh, cụ thể cắm cọc để giữ cây con khỏi tác hại của gió. Trồng xong tưới đẫm nước Dùng cỏ mục rơm rạ để tủ gốc. Đào hố nhỏ chính giữa Hình: Cách trồng cây C. KỸ THUẬT CHĂM SÓC 1. Chăm sóc sau khi trồng và thời gian khi cây chưa có quả
1.1. Làm cỏ, tưới nước giữ ẩm và trồng xen
- Sau khi trồng phải tưới nước thường xuyên giữ ẩm trong vòng 20 ngày đến 1 tháng để cây hoàn toàn bén rễ và phục hồi. Sau đó tuỳ thời tiết khô nắng mà có thể tưới bổ xung chống hạn cho cây.
- Những năm đầu cây còn nhỏ chưa giao tán phải làm sạch cỏ gốc, ở những vùng đất bằng hoặc hơi dốc nên trồng cây phân xanh ở giữa các hàng cây để vừa che phủ đất giữ ẩm, chống cỏ dại, vừa tạo nguồn phân xanh cải tạo đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây. Trồng xen phải theo phương châm (cây trồng xen không chèn cây trồng chính).
1.2. Cắt tỉa cải tạo dạng hình tán cây
* Phương pháp cải tạo tán cây
a) Cải tạo cành chính (cành cấp 1): Mỗi cây nên chọn 3 cành khoẻ, thẳng, ít cong queo. Vị trí tương xứng nhau chia đều các phía. Tạo 1 góc 60 0 so với mặt phẳng ngang. Các cành khác cắt tỉa ngắn dần để ức chế sinh trưởng. Thông thường cắt ngắn sau 3-4 năm mới cắt bỏ cành từ phần gốc. Tránh đốn đau 1 lần ảnh hưởng đến sức sinh trưởng 4
b) Cải tạo cành cấp 2: Cành cấp 2 mọc thẳng là những cành tốt. Khoảng cách giữa các cành cấp 2 trên cành cấp 1 cách nhau từ 40-60cm, phân bố đều về các bên không cùng hướng với nhau và tạo thành với cành cấp 1một góc 10-20 0 là tốt.
c) Cải tạo cành cấp 3: Cắt tỉa thành hình tam giác tạo tầng quả hình lập thể.
d) Cắt tỉa chùm cành xanh (cành cấp 4) là cành tạo quả và cành dinh dưỡng. Cắt ngắn cành phát dục để điều tiết sinh trưởng của cây, chủ động tỉa để số cành quả tuỳ theo mức độ để quả hoặc đổi mới cành. Sau khi cắt tỉa chùm cành xanh có dạng lượn sống và mọc chụm. Cải tạo tán cây không nên cắt quá đau dễ làm cho cây yếu đi (chột cây). Phải làm dần dần trong vài năm. Nếu cây quá yếu, không nên cải tạo. Nếu cây sinh trưởng quá tốt cần giảm bón phân cho cây mới có thể cải tạo tốt.
1.3. Phương pháp bón phân
+ Bón phân thúc: Bón phân thúc cho cây thời kỳ chưa mang quả phụ thuộc vào từng vùng trồng và tính chất của các loại đất, thường mỗi năm bón 4 - 6 lần vào các tháng 1- 2, tháng 4, 6, 8, 10 và tháng 12.
+ Lượng bón cho 1 cây Năm trồng Phân hữu cơ (kg) Phân bón tổng hợp NPK (g) Đạm ure (g) Lân supe (g) Thứ 1 Đã bón lót 1000 200 Đã bón lót 120 Thứ 2 40 5000 350 1000 150 (nếu không để quả) Thứ 3 50 10000 1000 3000 1000
+ Cách bón: Những năm đầu cây còn nhỏ, phân vô cơ có thể hoà với nước để tưới cho cây kết hợp với các đợt xới xáo làm cỏ hoặc rạch rãnh xung quanh tán sâu khoảng 0,5cm; rắc phân vô cơ rồi lấp đất lại.
+Cách bón phân chuồng: Cuốc rãnh rộng 30cm, sâu 10cm chiếu theo hình tán cây ,để 2, 3 ngày cho khô các đầu rễ rồi mới bón phân (hạn chế nấm phytophthora và Tristeza xâm nhập). Mỗi lần bón phân đều phải kết hợp với làm cỏ, xới xáo gốc, tưới nước và tủ gốc
2. Chăm sóc cây thời kỳ mang quả
2.1. Làm cỏ, tưới nước Thời kỳ này cũng phải thường xuyên làm cỏ xung quanh hình chiếu tán cây kết hợp với việc tủ gốc và tưới nước đủ ẩm cho cây.
* Cắt tỉa hàng năm: Thời kỳ cây có quả, sau mỗi lần thu hoạch đều phải đốn tỉa những cành tăm, cành khô, cành vượt, cành sâu bệnh. Công việc đốn tỉa phải được tiến hành thường xuyên nhằm tạo cho cây có sức bật mầm mới, thoáng, không sâu Ngắt bỏ toàn bộ hoa trong thời gian cây 1-2 tuổi và tỉa bớt các hoa dị hình, những hoa, quả non ra muộn và ở vị trí không thích hợp cho việc hình thành quả, công việc này có thể tiến hành bằng cánh phun các chất điều tiết sinh trưởng.
- Phương pháp bón phân cho cây: Tương đương Urea (g/cây/năm) Tương đương Super lân (g/cây/năm) Liều lượng Tương đương KCL (g/cây/năm) Phân bón tổng hợp NPK (g) 20 650 1 100 380 2000 40 40 1 080 1 520 630 4000 70 60 1 300 1 820 700 6000 70 90 1 740 2 420 1000 9000 70 120 2 170 3 030 1250 12000 70 150 2 600 3 640 1500 15000 70
Chú ý:
- Nếu trên đất đồi dốc dễ bị rửa trôi, đất cát pha, hoặc đất sỏi thì lượng phân bón cần tăng lên 30- 40%. Đất có nhiều mùn lượng phân bón trên cần giảm 20-
- Trong vườn nếu giữ cỏ băng cần tăng thêm 20% N vào vụ Xuân - Hè - Vào mùa hè mưa nhiều, có thể giảm bón đạm hoặc không bón để tránh lộc hè
- Nếu phân hữu cơ có hàm lượng đạm cao cần rút bớt lượng đạm vô cơ.
 * Thời kỳ bón phân cho bưởi Diễn Thời gian bón Tỷ lệ các loại phân chính(%) N P2O5 K2O NPK tổng hợp Bón sau khi thu quả (cuối tháng 11 đầu tháng Bón vụ Xuân, trước, sau khi lộc xuân xuất hiện (khoảng tháng 2-3) Thời kỳ quả lớn mạnh ( khoảng tháng 4, 5) Bón trước khi thu hoạch ( khoảng tháng 9, 10)
- Phân chuồng bón một lần duy nhất sau thu hoạch (khoảng cuối tháng 11 đầu 15 100 20 20 Bón sâu cùng toàn bộ phân 40 0 25 25 Tưới trước khi bón Nhằm hồi phục sức cho cây Nhằm tăng khả năng ra hoa, 0 40 30 Cắt cành vượt Nhằm thúc cho quả nhanh lớn, hạn chế rụng quả 15 0 25 25 Tăng chất lượng quả Bón theo tán cây, cuốc rãnh rộng 30cm, sâu 10 cm từ mép tán vào trong, phân trộn đều và rắc vào rãnh sau đó lấp đất. Mỗi lần bón phân kết hợp với làm cỏ và tủ lại gốc cùng với tưới nước 
Chú ý: Mỗi lần bón phân cần tưới nước đủ ẩm cho đất trước và sau khi bón.
+ Có thể phun thêm phân qua lá. VD: Phân bón lá 3 lá xanh: Phun lần 1 khi cây bắt đầu có hoa, phun lần 2 khi cánh hoa rụng, phun lần 3 khi cây đã đậu quả, các lần tiếp theo cách nhau 14 – 21 ngày . Để tăng kích thước và chất lượng quả có thể tưới vào gốc 2 – 3 tháng một lần. Phun phân bón lá Yogen, Komix… theo khuyến cáo trên nhãn mác của nhà sản 3. Quản lý dịch hại trên vườn bưởi Diễn Thực hiện quy trình phòng trừ tổng hợp được tiến hành theo 4 bước sau:
+ Quản lý và chăm sóc vườn cây khoẻ mạnh +Thường xuyên kiểm tra sâu bệnh hại trên cây, phát hiện và phòng chống kịp thời các ổ dịch tránh sự lây lan. + Tiến hành tổng hợp các biện pháp phòng trừ. Sử dụng bộ thuốc trừ sâu bệnh 7
+Tiến hành phun thuốc phòng trừ vào những thời điểm thích hợp. Một số sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ.
* Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella) Triệu chứng: là loại sâu phá hoại vào thời kỳ lộc non, nhất là đợt lộc Xuân. Sâu non nở ra ăn các lớp biểu bì trên lá non, cành non, quả non tạo thành các lớp ngoằn nghoèo có phủ sáp trắng, lá non xoăn lại cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm, mạnh nhất từ tháng 2- Phương pháp phòng trừ: phun thuốc Polytrin 25ml/10lít nước hoặc Selecron 25ml/10lít nước; phun phòng 1-2 lần trong mỗi đợt cây có lộc non, quả non và hiệu quả nhất (lúc lộc non dài từ 1-2cm, quả non có đường kính vanh 2 – 3 cm); phun ướt hết mặt lá non, quả non.
* Rầy chổng cánh (Diaphorina citri) Triệu chứng: trưởng thành chích hút lá non, đọt non, cành non là môi giới truyền bệnh vân vàng lá. Thời gian xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 11.
Phương pháp phòng trừ:
- Không nên trồng các cây cảnh thuộc họ cam quýt gần các vườn cây bưởi Diễn có cây đầu dòng.
- Cắt tỉa cành, điều khiển các đợt lộc ra tập trung để hạn chế sự phát triển và gây hại của rầy chổng cánh.
- Hủy bỏ những cây bị bệnh vàng lá Greening trong vườn đem tiêu hủy để giảm nguồn bệnh lây lan sang những cây khỏe.
- Bảo vệ và tạo điều kiện cho các loài thiên địch trong vườn phát triển.
- Phun thuốc khi cây ra đọt non tập trung, có thể dùng các loại thuốc: Phun bằng thuốc Trebon 0,2%, Sherpa 0,2% khi xuất hiện hoặc cung tên 100g/16 lít nước.
* Bọ xít xanh (Rhynchocoris humeralis) Triệu chứng: trưởng thành và ấu trùng dùng vòi để chích hút dịch trái từ khi trái còn rất nhỏ. Chỗ vết chích có một chấm nhỏ và một quầng màu nâu. Nếu trái còn nhỏ đã bị bọ chích hút nhiều thì trái sẽ vàng, chai và rụng sớm. Nếu trái đã lớn mới bị bọ xít xanh gây hại thì trái dễ bị thối rồi rụng. Một con có thể chích hút gây hại nhiều trái.
Phương pháp phòng trừ:
- Dùng vợt tay để bắt bọ xít vào lúc sáng sớm hay chiều mát.
- Thường xuyên kiểm tra trái và những lá gần trái để phát hiện và thu gom ổ trứng của chúng đem tiêu hủy. - Sử dụng một số loại thuốc như: Bascide 50EC, Hoppercin 50EC, Cyper 25EC, Dầu khoáng SK, Enspray 99EC, Vibasa 50EC, Sherpa 0,2%… để phun trừ.

* Nhện đỏ (Panonychus citri) Triệu chứng: phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ Đông Xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vòng tròn lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo. Phương pháp phòng trừ: dùng thuốc: Comite 10ml/10lít nước; Furmite:12ml + 30ml dàu khoáng SK hoặc Ortus Pegasus; ACplant 4.CT; Longph ABA 5.EC; Newsodant 5.3EC pha nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc thuốc có chứa hoạt chất Abamectin kết hợp với dầu khoáng trừ sâu… phun ướt cả mặt lá dưới và phun lúc cây ra lộc non; phun ướt toàn bộ quả non và phun lúc cây bưởi Diễn đầu dòng sau tắt hoa đậu quả 15 – 20 ngày để phòng ngừa.
* Nhện trắng (Phyllocoptura oleivora) Triệu chứng: phát sinh chủ yếu trong thời kỳ khô hạn kéo dài vài tháng (trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu xám trắng ở trên vỏ quả. Nhện trắng làm lá non và búp non chùn Phương pháp phòng trừ: phòng trừ như nhện đỏ
* Rệp muội xanh (Aphis spiraecola) và rệp muội nâu đen (Toxoptera aurantii) Triệu chứng: rệp muội xanh Aphis spiraecola (A. citricola) và loài rệp muội nâu đen Toxoptera aurantii là 2 loài gây hại phổ biến với mật độ cao trên cây bưởi Diễn, chúng thường gây nên hiện tượng lá vàng úa, phủ kín muội đen, dẫn đến giảm khả năng quang hợp, năng suất cũng như chất lượng quả. Rệp muội gây hại chủ yếu trên lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiếp nước nhờn khiến lá bị muội đen.
Phương pháp phòng trừ:
- Cắt tỉa cành, điều khiển các đợt lộc ra tập trung để hạn chế sự phát triển và gây hại của rệp muội.
- Bảo vệ và tạo điều kiện cho các loài thiên địch trong vườn phát triển.
- Dùng thuốc Cung tên 100g/16l nước, Suprasite 20ml/10l nước; Sherpa hoặc Trebon với nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất phun trong 1-2 lần ở thời kỳ lộc
* Rệp sáp (Planococcus citri) Triệu chứng: rệp sáp gây hại bằng cách chích hút lá, cành, quả, cuống quả. Nếu bị nhiễm nặng, lá bị vàng, rụng, cành bị khô và chết, quả cũng có thể bị biến mầu, biến dạng, phát triển kém và bị rụng. Gây hại chủ yếu vào mùa nắng. Mật ngọt do rệp tiết ra còn hấp dẫn nấm bồ hóng phát triển làm ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây.
Phương pháp phòng trừ: sử dụng thuốc hóa học gốc Lân hữu cơ có hiệu quả đối với rệp sáp, không nên sử dụng liên tục một loại thuốc nhất định, nên sử dụng thuốc phối hợp thuốc hóa học với Dầu khoáng DC-Tronc Plus (0,5%); dùng Sherpa, Suprathion, Trebon, thuốc cung tên phun nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất phun trong 1-2 lần ở thời kỳ lá non, quả non.
* Rệp vẩy (Aonidiella aurantii)
Triệu chứng: rệp vẩy hình tròn như vẩy ốc, nhỏ, xung quanh màu xám, ở giữa có màu hồng đỏ, phía dưới có lớp bám dính vào lá cây, quả bưởi Diễn dể hút dinh Phương pháp phòng trừ: dùng thuốc Supracide liều lượng 20 – 25ml/10lít nước hoặc thuốc cung tên 100g/16lít nước, phun kép 2 lần cách nhau 5 – 7 ngày.
* Sâu đục gốc (Anoplophora chinensis) Triệu chứng: sâu đục gốc còn gọi là xén tóc sao hay xén tóc hoa vì trên thân có điểm khoảng 30 chấm trắng. Con trưởng thành thường ăn các phần non của cây, đặc biệt là rễ non trước khi đẻ trứng vào tháng 5 - 6. Trước khi đẻ, xén tóc sao cắn vào gốc cây một vết hình chữ T ngược rồi đẻ trứng vào đó. Sau 6-12 ngày thì trứng nở, sâu non di chuyển xuống phía dưới gốc, phá hại phần gốc, rễ cây tiếp giáp với thân. Đầu tiên sâu hại vỏ, sau đó đục vào phần gỗ. Nhiều khi sâu đục cả những rễ to, làm cây héo toàn bộ, rụng lá và chết.
* Sâu đục thân (Nadezhdiella cantori) Triệu chứng: sâu đục thân là xén tóc nâu. Xén tóc nâu thích nơi râm mát, ban ngày ẩn nấp, ban đêm thường tìm đến đẻ trứng vào những kẽ nứt, chỗ gồ ghề ở thân cây, cách mặt đất 0,3 - 1m. Trong các tháng 5-6- 7, sau khi đẻ 6-12 ngày, trứng sẽ nở. Sâu non nở ra chui vào vỏ, phá hoại phần gỗ, tạo thành những đường ngoằn ngoèo dọc
* Sâu đục cành (Chelidonium argentatum) Triệu chứng: sâu đục cành là con xén tóc xanh. Xén tóc xanh thường đẻ trứng vào tháng 5-6 trên các nách lá ngọn, cành tăm. Sau 10-12 ngày sâu nở, bắt đầu gặm vỏ cành để sống, đục phá từ cành nhỏ đến cành lớn và cả thân cây. Khoảng 8 - 9 tháng sau, sâu non đục đến cành cấp 1,2, thậm chí có thể tới thân. Thông thường sâu tập trung ở cành cấp 1, làm buồng hoá nhộng bằng cách dùng mùn cưa và chất bài tiết vít đường đục lại rồi đục một lỗ ra ngoài, chừa lại vỏ cành để làm cửa vũ hoá sau này. Khoảng tháng 2-3, sâu non hoá nhộng, tới tháng 4-5 thì vũ hoá thành con xén tóc xanh bay ra. Trên thân cây có thể bị hàng chục con sâu đục cành, nếu 2-3 năm liền bị hại, Phương pháp phòng trừ sâu đục gốc, đục thân và đục cành: 10 - Quét vôi hàng năm vào gốc cây và cành cấp 1. - Thăm vườn thường xuyên, bắt xén tóc trưởng thành, bắt sâu non. - Dùng thuốc Supracide hoặc Ofatox nồng độ 1-1,5/1000 bơm vào lỗ đục của cây sau đó dùng đất sét bịt miệng lỗ lại. Kết hợp phun các loại thuốc lên trên cây để * Ruồi vàng (Bactrocera dorsalis) Triệu chứng: trên quả bị gây hại có thể quan sát thấy những lỗ nhỏ khoảng 1mm. Từ đây sâu non đào lỗ và chui vào trong tép. Thông thường có giọt gôm nhỏ từ trong lỗ chảy ra. Sau khi bị gây hại, vết bệnh bắt đầu thối trở thành màu nâu. Cuối cùng quả rụng xuống và bị hủy toàn bộ. Ruồi vàng (nhỏ hơn con ruồi thường) màu vàng, xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 10 trong năm. Phương pháp phòng trừ: sử dụng thuốc diệt ruồi vàng đục trái Vizibon D: Hộp nhỏ chứa 2 chai thuốc gồm 1 chai lớn (chất dẫn dụ ruồi) và 1 chai nhỏ (chất diệt ruồi). khi sử dụng mở nắp 2 chai thuốc. Đổ hết thuốc diệt ruồi vào chai chất dẫn dụ, đậy nắp kín, lắc đều. Sau đó tẫm khoảng 1ml hỗn hợp thuốc đã trộn vào bẫy, treo lên cây. Treo từ 2-3 bẫy cho mỗi 1000m2. Sau 20 ngày treo, đỗ hết xác ruồi chết, tẫm thuốc mới vào bẫy, tiếp tục treo lên cây. * Bệnh loét (Xanthomonas campestris) Triệu chứng: Bênh gây hại nặng tất cả thời kỳ trồng cây bưởi Diễn nếu không được phòng ngừa tốt. Trên lá xuất hiện các vết bệnh màu nâu, có thể lốm đốm hoặc dày đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành thì sẽ nhìn thấy các đám sần sùi như ghẻ lở, màu vàng hoặc nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ bị khô và chết, thời kỳ mang quả bệnh tấn công từ lúc quả còn nhỏ đến khi quả lớn, bệnh nặng làm rụng quả. Năm nào mưa nhiều kèm thời tiết nóng ẩm bệnh phát mạnh thành dịch. Phương pháp phòng trừ: phun boocdo 1% (15g suphatdong +20g vôi tôi/12lít nước) hoặc Kocide: 35g/10 lít nước, Oxyclorua Đồng. *Bệnh sẹo (Elsinoe fawcetti) Triệu chứng: lá và quả có những nốt nổi gồ ghề màu nâu, thường gây hại lá và quả lúc còn nhỏ. Vết bệnh tạo thành những nốt ghẻ nhỏ cao trên bề mặt lá, thường lộ mặt dưới của lá, vết bệnh có màu vàng rơm, nhiều vết bệnh liên kết lại thành từng mảng lớn làm cho lá bị nhăn nheo biến dạng, cây sinh trưởng kém, cằn cỏi. Khi tấn công trên cành làm cho cành bị khô và chết, thời kỳ mang quả bệnh tấn công từ lúc quả còn nhỏ đến khi quả lớn, bệnh nặng làm rụng quả. Bệnh phát triển mạnh vào mùa mưa theo các đợt lá và chồi non 11 Phương pháp phòng trừ: cắt bỏ và tiêu hủy các bộ phận cây bị nhiễm bệnh. Phun định kỳ các loại thuốc trừ nấm theo các đợt lá, chồi non như Kumulus hay các loại thuốc gốc đồng như Kasuran, Kocide, Coc 85. Các biện pháp khác áp dụng như đối với * Bệnh chảy gôm (Phytophthora sp) Triệu chứng: bệnh thường phát sinh ở phần gốc cây, cách mặt đất khoảng 20- 30cm trở xuống cổ rễ và phần rễ. Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị nứt và chảy nhựa (chảy gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ. Phương pháp phòng trừ: - Đối với vết hại cục bộ phần thân gốc: Cạo sạch vết bệnh, dùng thuốc Aliette nồng độ 0,5% quét vào vết bệnh. - Đối với những cây có biểu hiện triệu trứng nhẹ cần phun Aliette nồng độ 0,3% * Bệnh vàng lá Greening Triệu chứng: lá bị vàng có đốm xanh, lá vàng có những gân xanh, lưng lá bị sưng và hoá bẩn, khô, những lá mới nhỏ lại mọc thẳng đứng và có màu vàng. Cây thường ra hoa nhiều và ra quả trái vụ nhưng rất dễ rụng, quả nhỏ, quả bị lệch tâm, tép nhỏ, 1 số hạt bị thui đen. Cây bị bệnh hệ thống rễ thối nhiều. Giám định bằng triệu chứng phải kết hợp nhiều triệu chứng lại với nhau mới chính xác. Phương pháp phòng trừ: - Phun thuốc trừ rầy chổng cánh - Không nên trồng cây nguyệt quế trong vườn vì rầy chổng cánh rất thích đẻ trứng và chích hút cây này. * Nắng làm rám quả - Khoảng tháng 5, 6 nắng gió tây gay gắt nhiệt độ cao, những quả bưỏi Diễn nằm ở ngoài tán chịu trực xạ của ánh nắng chiếu vào làm cháy xém 1 phần vỏ. Quả cháy xém nặng sau bị thối và rụng. Quả cháy xám nhẹ 1 phần vỏ bị ảnh hưởng đến mẫu mã khi bán sản phẩm. - Cách khắc phục: sử dụng túi bao quả chuyên dụng cho quả bưởi Diễn hoặc cuối tháng 5 dùng vật liệu nhẹ buộc che phần trên quả bưởi Diễn ở phía ngoài tán cây. - Thời gian từ 25/12 đến 25/01 năm sau. Độ chín thích hợp để thu hái được căn cứ vào một số chỉ tiêu sau: + Sự biến đổi màu sắc quả khoảng trên 50% + Hàm lượng nước quả: trên 50% trọng lượng quả. 12 + Hàm lượng chất khô hoà tan( độ Brix): 10,0 trở lên. + Chỉ số E/A( Đường tổng số/ axit tổng số): Trên 10 - Khi hái quả phải dùng kéo cắt cuống quả, không làm xây xát vỏ, gẫy cành, rụng lá, quả để ở nơi thoáng mát phân loại chờ vận chuyển đến nơi bảo quản và tiêu thụ. 5.Hiện tượng bưởi Diễn mất mùa- nguyên nhân và giải pháp khắc phục Những năm gần đây bưởi các loại (Diễn, Phúc Trạch, Đoan Hùng...) không ra hoa, hoặc ra hoa nhưng không đậu được quả phổ biến ở nhiều vùng ở Miền Bắc và miền Trung làm cho các nhà vườn thất thu và tâm lý lo lắng khi thâm canh loại sản 5.2.Nguyên nhân của hiện tượng mất mùa này - Nguyên nhân sinh lý:do mất cân bằng về tình trạng sinh trưởng, phát triển: sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực mất cân đối( tỷ lệ C/N), bất hợp lý qua Do phát triển bưởi Diễn theo xu hướng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn và phá bỏ cây bưởi truyền thống, dẫn tới bưởi mất tình trạng thụ chéo, bổ sung phấn từ đó dẫn tới bưởi ra hoa nhưng khả năng thụ phấn, thụ tinh không thành công- tỷ lệ đậu Do nhiều loài dịch hại phá hại. - Nguyên nhân sinh thái: Do sự thay đổi về thời tiết khí hậu, nhiều hiện tượng thời tiết bất thuận: mưa lớn, mưa axit, mưa phùn kèm theo hóa chất độc hại gây ngộ độc cho hạt phấn... 5.3.Một số giải pháp hạn chế tình trạng mất mùa của bưởi Diễn - Điều tiết quá trình phát triển cân đối: hài hòa qua các thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực. - Đất phải được cải tạo thường xuyên, hàng năm bón bổ sung hàm lượng phân hữu cơ để cải tạo đất và bộ rễ cây bưởi Diễn. - Áp dụng đúng và triệt để các biện pháp kỹ thuật đề ra. - Việc phòng trừ sâu bệnh hại trên cây bưởi Diễn phải kịp thời và đúng thời - Điều độ nước trong vườn bưởi Diễn cần hợp lý, nhất là vào thời kỳ ra hoa đậu quả cần phải giữ đủ ẩm khi vườn khô và thoát nước kịp thời khi trong vườn đọng nước. - Trồng xen, ghép cải tạo một số giống cây có múi khác trong vườn để làm tăng khả năng thụ phấn chéo, bổ sung phấn trong giai đoạn cây bưởi Diễn ra hoa đậu quả. - Vào những ngày có mưa xít, mưa phun kéo dài có thể dùng máy phun thuốc phun nước lã lên cây bưởi Diễn làm giảm hàm lượng axit đọng lại trên hoa, quả non. 13 - Chặn, đào cắt đứt bớt rễ; vít cành, khoanh thiến thân, cành; tạo khô hạn và ngừng bón phân giai đoạn tháng 10-12 (âm lịch) trên các vườn cây bưởi Diễn khỏe. - Sử dụng một số chất điều hòa sinh trưởng, phun hoặc tưới cho cây vào thời kỳ trước hoặc sau khi nở hoa, đậu quả. + Trước lúc ra hoa 15 – 20 ngày phun: - Phân bón lá Arrow (5g/8 lít) + Flower 94 (15g/8 lít); phân bón lá sao vàng 15 siêu ra hoa đậu trái cam chanh quýt. + Chuẩn bị ra hoa phun: Phân bón lá Flower 95 (15g/8 lít) + Bortrac (10g/8 lít ). + Sau khi tắt hoa phun: phun phân bón lá sao vàng 15 siêu lớn trái cam quýt bưởi, phân bón lá lớn trái của hãng Toba.

[Quay lại]



Các tin liên quan